Những người ngoài nghề ấy vẫn nói rằng: Có luật rồi, theo luật mà làm. Đừng đổ lỗi. Nhưng, luật cho phép tự do sáng tác, rồi luật lại bảo, không được lợi dụng tự do để tác động đến môi trường xung quanh .V.V. Cái ranh giới giữa công dân chính trực và kẻ vi phi pháp luật là rất phong phanh, là tùy thuộc, thỉnh thoảng chỉ vào… trình độ thẩm thơ của chị thẩm phán. Không có sáng tạo độc lập thì văn có hay mấy cũng không độc đáo, ngòi bút có giỏi mấy cũng không lên tới đỉnh cần thiết, lấy đâu ra tác phẩm đỉnh cao.
Thứ nhất là về khả năng sáng tạo. Trong ngàn người được gọi là hội viên Hội nhà văn Việt Nam (kể từ khi thành lập Hội 1957) có nhẽ phải tới hàng trăm người cầm bút viết văn chỉ dựa vào sự mách bảo của bản năng. Đành rằng, bản năng cũng là một nguyên tố quan yếu, nhưng chỉ có nó không thôi thì tác phẩm đẻ ra chỉ quẩn những trải nghiệm và sự quan sát nghèo nàn của bản thân, mà không lý giải hay giảng nghĩa về sự tồn tại của con người, của một lớp người, của dân tộc hoặc cả nhân loại. Để từ đó giúp (san sẻ) được với độc giả nỗi đau khổ hay niềm hạnh phúc của họ.
Họ, những người đó đã đánh mất dần bản thân vào những tản văn trên góc nhỏ tờ báo tuần, hay những truyện ngắn mì ăn liền, hay những truyện dài diễm tình để được xuất bản và có tiền chóng vánh. Mất dần đến mức, sinh ra cả thói tự duyệt chính mình. Điều đó khiến cho ngòi bút và tư tưởng không thể thăng hoa, điều đó ai trong nghề cũng hiểu. Nhưng người trong nghề lại phụ thuộc rất nhiều người dưng nghề nhưng cầm nắm quyền “sinh hạ”.
LTS: Sau khi đăng tải quan điểm của nữ nhà văn Y Ban về việc tại sao VN chưa có tác phẩm văn chương lớn, chúng tôi đã nhận được quan điểm của nhà văn Trần Thị Trường, nối lý giải vấn đề này. Xin giới thiệu cùng độc giả để tiếp kiến bàn cãi.
Ngay kể cả khi gõ phím những dòng chữ này, người viết cũng phải do dự khôn xiết, mãi mới dám bày tỏ… chút ít. Rất có thể, nhân kiệt không có nên viết mãi mới thành. Nhưng có một sự thật là có nhiều chữ định viết ra mà sợ nó chui vào vòng “nhạy cảm”. Thế là không viết. Và hẳn nhiên là sẽ đổ lỗi rằng, nếu viết thì có thể không được in, nếu in thì có khi bị rầy rà. Chẳng những bản thân “bị” mà thân nhân cũng “bị” luôn.
Những tác phẩm đó không thể gọi là tác phẩm lớn. Như đã nói ở trên, tác phẩm lớn phải là những tác phẩm đề cập được khát vọng của con người, phản chiếu những nhức nhối đang đặt ra trong cuộc sống, trong thời đại; khơi dậy ở mỗi người, ở cộng đồng sự tự ý thức sâu xa về đạo đức, nhân cách, về thể nhân sinh, về mâu thuẫn nội tại hoặc về nguyên do sâu xa của hạnh phúc và khổ đau.
Nhà văn Trần Thị Trường
Có thể nói khi chưa có một môi trường xuất bản dám đảm bảo cho những tuyệt tác văn chương xuất hiện thì kiên cố kiệt tác chẳng thể xuất hiện. (Cứ phỏng chừng nếu không đúng cái giây lát mở cửa thì “Cây tỏi nổi giận”, “Đàn hương Hình”, “Phong nhũ phì đồn” của Mạc Ngôn, hay “Nỗi buồn chiến tranh”, “Tướng về hưu” có xuất hiện được không?). Tôi gọi đó là cái giây khắc, đúng hay sai tự bạn đọc sẽ hiểu.
Trước nhất chúng ta phải đồng ý với nhau rằng, tác phẩm văn chương lớn (có giá trị cao), là một tác phẩm có thể tác động vào sự biến đổi xã hội do đọc nó mà thế giới quan, nhân sinh quan của con người đổi thay dẫn đến ứng xử, hành động… thay đổi, làm cho cuộc sống thay đổi. Nếu không phải thế thì chẳng lẽ tác phẩm lớn phụ thuộc vào độ dày của sách, số lượng lớn của phát hành hay sự tán dương của người đọc? mặc dù những nhân tố này cũngđóng góp một phần đáng kể, để nói lên giá trị của tác phẩm nghệ thuật.
Chúng ta còn quá nhiều định kiến với đương đại
Nguyên tố thứ ba, cộng đồng và trình độ thưởng thức: Nếu nói trình độ thưởng thức nghệ thuật văn chương ở ta là kém cỏi thì lý giải thế nào với các tác phẩm dịch cỡ Nobel được người đọc ở ta đón nhận trong thời gian vừa qua?
Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014
Đồng hồ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét