Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Trung Quốc: Hỏa hoạn tại trung tâm Phật đá phong thủy xuân trang giáo Tây Tạng

| Thế giới nữ trang | Kim cương nhân tạo | Nữ trang | Nhẫn nữ | Trang sức mới | Đá quý

CÔNG TY CP THẾ GIỚI NỮ TRANG DỜI VỀ ĐỊA CHỈ 103 NGUYỄN TRÃI, P.2, Q.5, TP.HCM

| Thế giới nữ trang | Kim cương nhân tạo | Nữ trang | Nhẫn nữ | Trang sức mới | Đá quý

| Thế giới nữ trang | Kim cương nhân tạo | Nữ trang | Nhẫn nữ | Trang sức mới | Đá quý

Kim cương nhân tạo Lucky Star

Công ty Cổ Phần Thế Giới Nữ Trang tự hào mang đến cho bạn những dòng sản phẩm nữ trang cao cấp đính kim cương nhân tạo và các loại đá thiên nhiên. Nhiều mẫu mã được trưng bày tại Showroom - 103 Nguyễn Trãi, P2, Q.5, TP.HCM. Đội ngủ nhân viên được đào tạo có chuyên môn cao tư vấn cho quý khách lựa chọn những mẫu sản phẩm phù hợp

Kim Cương nhân tạo Lucky Star Không chỉ là biểu tượng của sự hoàn hảo, tinh khiết, kim cương còn là sự gắn kết giữa sức mạnh và sự may mắn. Theo thần thoại và quan niệm của người Hy Lạp cổ, kim cương là những mảnh nhỏ của các vì sao. Những vì sao đó tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh, huyền hoặc, khiến con người ta luôn phải mê đắm ngắm nhìn. Trong hàng triệu triệu ngôi sao đó, những ngôi sao sáng nhất ắt hẳn sẽ mang một sức mạnh vô song, có thể mang đến cho người ta sự thư thái trong tâm hồn, cho tình yêu sự bình yên và cho cuộc sống sự may mắn trọn đời. Kim cương nhân tạo LUCKY STAR - Ngôi Sao May Mắn chính là ngôi sao sáng nhất đó.

Ốp lưng Iphone bằng vàng

Nhận thiết kế, xi mạ vàng, đính đá quý, kim cương trên vỏ Iphone 4,5. Nhiều mẫu mã thời trang, giá cả cạnh tranh, kèm bảo hành SPIRIT OF THE COLLECTION

Với bộ sưu tập trang sức cao cấp lấy ý tưởng từ thiên nhiên Thế Giới Nữ Trang đã cho ra đời hàng trăm mẫu thiết kế đặc sắc

Dòng chữ nghi trên bức ảnh cho thấy một chiếc máy bay ném bom Su- 24MK của Không quân Syria đang được tu tạo có số hiệu 3506 . Một trang blog chú giải: “Rõ ràng, bức ảnh cho thấy việc thay thế và bổ sung thiết bị của hệ thống định vị-ngắm bắn PNS- 24”. Việc nâng cấp máy bay ném bom trận mạc Su- 24MK là nhằm tiến hành các vụ không kích bằng bom và hoả tiễn trong những điều kiện thời tiết bình thường và phức tạp, ngày và đêm, ở tầm thấp nhằm tấn công các đích dưới mặt đất và trên biển. Không quân Syria sở hữu 20 phi cơ ném bom Su- 24MK từ năm 2010. Lãnh tụ Fidel Castro tại buổi triển lãm. Ảnh: Reuters Reuters cho biết, ông Fidel Castro, 87 tuổi, đến dự buổi khai trương triển lãm của danh họa Wifredo Lam mà ông rất yêu thích. Ông đã chào hỏi thân mật các nghệ sĩ và dân chúng, những người nhiệt liệt chào đón ông. Vị cựu lãnh đạo 87 tuổi này đi tham quan phòng trưng bày nghệ thuật, chiêm ngưỡng các tác phẩm điêu khắc và các bức tranh. Với mái tóc và râu màu xám, ông vui vẻ ngồi chuyện trò với Alexis Leyva, họa sĩ và nhà điêu khắc nổi danh với nghệ danh Kcho, và những người khác. Lãnh tụ Fidel hầu như chơi xuất hiện trước công chúng từ năm 2006. Theo Reuters, cả New Delhi và Washington nhấn mạnh tầm quan yếu của mối quan hệ song phương nên nhanh chóng tìm một giải pháp khả thi cho cả hai bên. Tài liệu và mỏng từ các quan chức Mỹ tiết lộ, bà Khobragade được quyền miễn trừ ngoại giao và được đề nghị ngay lập tức rời khỏi Mỹ. Bà Khobragade bị bắt hôm 12-12 và bị truy tố tội ăn lận visa và cáo sai sự thật khoản tiền trả cho bảo mẫu hôm 9-1. Vụ việc dẫn đến các cuộc biểu tình ở Ấn Độ và mối quan hệ song phương rộng lớn Mỹ- Ấn trở nên căng thẳng. Bà Devyani Khobragade. Ảnh: Reuters Ông Chaudhry Aslam, chỉ huy bộ phận điều tra hình sự Pakistan (CID) cùng với hai sĩ quan khác đã bỏ mạng trong một vụ đánh bom trẫm mình. Chiếc xe chở chỉ huy cảnh sát Chaudhry Aslam bị đánh bom. (Ảnh: AP) Lực lượng Taliban tại Pakistan đã nhận trách nhiệm về vụ đánh bom xảy ra hôm 9/1, lấy đi tính mệnh của sĩ quan cảnh sát Chaudry Aslam, người từng được mệnh danh là “cảnh sát rắn nhất Pakistan” do lập trường cứng rắn của ông này khi đối phó với các phần tử vũ trang Hồi giáo. Theo thông báo từ lực lượng cảnh sát, chiếc xe bọc thép chở ông Aslam cùng hai ô tô cảnh sát hộ vệ đã bị một ô tô chứa đầy chất nổ lao thẳng vào đoàn xe và gây ra một vụ nổ lớn. Ông Aslam cùng vớ những người trong xe bọc thép đã bỏ mạng. Sĩ quan cảnh sát Chaudry Aslam rất nức tiếng ở Pakistan vì là người dẫn đầu các chiến dịch chống tầy và phiến quân Taliban. Kể từ năm 2006 đến nay, lực lượng Taliban đã bốn lần tìm cách sát hại viên cảnh sát này. Hai năm trước thì một chiếc xe chứa đầy thuốc nổ đã lao thẳng vào nhà ông, khiến 8 người thiệt mạng. Bà Kim Kyong Hui, cô của ông Kim Jong Un có thể đang sống thực vật nhật trình JoongAng của Hàn Quốc dẫn lời một quan chức tình báo Mỹ cho biết, bà Kim đang sống thực vật sau khi sang phẫu thuật não ở Pháp. Một quan chức khác trong chính phủ Hàn Quốc cũng cho biết, bà Kim đang “trong tình trạng nguy kịch” vì biến chứng xuất hành từ bệnh tim. Số mệnh của bà Kim Kyong Hui, 67 tuổi, rất được truyền thông thế giới quan tâm, đặc biệt là sau khi chồng bà là ông Jang Song Thaek, nhân vật quyền lực số 2 Triều Tiên bị xử quyết tháng trước vì tội mưu mô lật đổ chính quyền. Mặc dù ông Jang Song Thaek bị tử hình nhưng cuộc sống của bà Kim được cho là vẫn an toàn. Tháng trước, bà đi cùng nhiều quan chức khác của Triều Tiên tới đám tang của một quan chức cao cấp của Đảng cần lao nước này. Theo nhiều bẩm, bà nghiện rượu và bị trầm cảm sau cái chết của đứa con độc nhất vô nhị là Jang Kum Song. Cô Jang Kum Song trầm mình ở Paris vào năm 2006. Devyani Khobragade về đến Delhi. Căng thẳng giữa Washington và Delhi tăng cao kể từ ngày 12/12, khi Phó Tổng lãnh sự Ấn Độ Devyani Khobragade bị bắt ở New York vì bị cáo buộc gian lận thị thực và khai sai sự thực về trả lương cho giúp việc. Trước đó trong ngày 10/1, trong một hành động cũng mang tính trả nủa, Ấn Độ đã đề nghị Mỹ rút về một quan chức sứ quán nước này, ngay khi cãi vã giữa hai bên có vẻ đã dịu bớt. "Chúng tôi rất lấy làm tiếc việc chính phủ Ấn Độ cảm thấy cần phải trục xuất một trong các viên chức ngoại giao của chúng tôi", phát ngôn viên Jen Psaki của Bộ Ngoại giao Mỹ nói. Bà cũng công nhận người này sẽ rời vị trí của mình theo đề nghị của Delhi. "Chúng tôi hy vọng xúc tiến mối quan hệ của chúng tôi. Chúng tôi muốn vượt qua giai đoạn thử thách này và chúng tôi hy vọng họ sẽ là một đối tác trong việc đó", bà Jen bộc bạch thêm. Khobragade, 39 tuổi, đã bị kết tội tại một tòa án New York hôm 9/1 song được Washington miễn trừ và đề nghị về nước. Nữ quan chức ngoại giao này đã về New Delhi ngay hôm sau đó. Phát ngôn viên Psaki cho biết, các tội danh vẫn có hiệu lực và Khobragade hết quyền miễn trừ ngoại giao ngay khi trở về Ấn Độ. Bà này sẽ không được phép trở lại Mỹ và tên bà vẫn có trong danh sách giám sát nhập cư và thị thực của nước này nhằm "ngăn chặn việc cấp thị thực trong ngày mai". Luật sư Dan Arshack, đại diện cho Khobragade, cho biết nhà ngoại giao này vui khi trở về Ấn Độ. "Đầu bà ấy ngẩng cao. Bà ấy biết mình không làm gì sai và nhìn thẳng về phía trước để bảo đảm sự thật được biết đến", ông Arshack cho hay. Phát biểu với các phóng viên tại trường bay quốc tế Indira Gandhi ở New Delhi, cha của Khobragade, Uttam Khobragade, đãi đằng: "Con tôi đã trở về và rất thoải mái, vui vẻ. Chúng tôi chứa chan trong sự ủng hộ của cả nước". Nhà ngoại giao Mỹ bị phía Ấn Độ trục xuất "ngang hàng" với Khobragade. Ấn Độ và Mỹ đã coi như các đối tác chiến lược. Tuy nhiên, các diễn biến vài tuần trở lại đây ảnh hưởng lớn đến những gì Tổng thống Barack Obama từng trình diễn.# Là "một trong những mối quan hệ đối tác định hình của thế kỷ 21". Ấn Độ cũng đã dỡ bỏ các hàng rào an ninh quanh sứ quán Mỹ ở New Delhi, đề nghị được biết các chi tiết hiệp đồng đối với các nhân viên mà giới ngoại giao Mỹ nơi đây thuê làm việc, thậm chí dừng việc cho phái đoàn ngoại giao này nhập rượu miễn thuế. Trong thời gian qua, Mỹ đã đầu tư mạnh tay vào việc cải thiện quan hệ với Ấn Độ, nước vốn được Washington xem như một đồng minh chủ chốt trong "trục" xoay tới châu Á của mình. Trong khi đó, Delhi hưởng lợi từ việc được Mỹ ủng hộ tiếp cận khoa học năng lượng hạt nhân nước ngoài và Washington trở nên một nhà cung cấp vũ khí quan trọng, đồng thời là thị trường lớn cho phần mềm cũng như các dịch vụ IT của nhà nước châu Á. Thanh Hảo (Theo BBC, NST) Thị trấn Dukezong tiêu điều sau vụ hỏa hoạn. (Nguồn: THX/ TTXVN) Hơn 100 ngôi nhà đã bị thiêu rụi trong vụ hỏa hoạn kéo dài tới 9 giờ này. Hơn 1000 lính cứu hỏa và lực lượng chức năng được huy động tới dập tắt đám cháy. Trong số những ngôi nhà bị cháy có viện Phật giáo Gar Larung, được thành lập năm 1980, một trong những trọng điểm lớn nhất của Phật giáo Tây Tạng. Chưa có thông tin về thương vong nhưng ước lượng ban đầu, thiệt hại do vụ hỏa hoạn gây ra vượt quá 100 triệu nhân dân tệ (17 triệu USD). Thị trấn Dukezong (cái tên mang nghĩa "thị trấn của trăng" theo tiếng nói Tây Tạng) được tạo dựng cách đây 1300 năm. Hồ hết các công trình kiến trúc ở đây đều được làm bằng gỗ. Đây cũng là một trong những danh thắng bậc nhất trong lịch sử Con đường tơ lụa phương Nam nức danh xưa. Hồ hết những hình ảnh trên đều cho thấy rõ ràng Bắc Kinh đã có trong tay Harbin Z-19, chế tạo dựa trên thiết kế trực thăng tấn công Z-9W vốn là biến thể của trực thăng sản xuất theo giấy phép của Pháp AS-365N. Z-19 đứng trong đội ngũ dòng trực thăng tấn công hạng nhẹ như Eurocopter Tiger, mang theo tên lửa chống tăng và một pháo 30mm ở dưới mũi. Tuy nhiên, các hình ảnh mới công bố gần đây chưa thấy được trang bị loại pháo này. Mẫu trực thăng này được thiết kế thân hẹp với 2 chỗ ngồi cho phi công được bố trí sớm muộn. Buồng lái được bọc giáp chống lại súng máy hạng nhẹ. Trực thăng được trang bị 2 cảm biến cảnh báo sớm hoả tiễn ở 2 bên mũi máy bay, phía dưới là mô-đun trinh sát/theo dõi và dẫn bắn quang hồng ngoại cho tên lửa. Bên cạnh Z-19, Trung Quốc cũng cho ra mắt trực thăng tiến công WZ-10 , được ví ngang hàng với Apache của Mỹ, dự định sẽ là chủ lực trong tác chiến mặt đất, tiêu diệt các đích nhất mực và di động của đối phương. WZ-10 được chế tác bằng loại vật liệu composite đặc biệt, có khả năng tiếp thụ sóng radar, giảm thiểu khả năng bị phát hiện trong tác chiến. Có thể những thiết bị điện tử và theo dõi của WZ-10 được sinh sản trong nước. Hai cánh dọc thân tàu bay có thể mang theo 1,5 tấn vũ khí, trong đó có 8 hoả tiễn không đối đất, tên lửa chống tăng, một pháo 23mm được gắn ở mũi trực thăng. Gần đây, những hình ảnh về Z-20 do Trung Quốc tự sinh sản lại cho thấy nhiều điểm tương đồng với Black Hawk của Mỹ. Tuy nhiên, hệ thống cánh quạt chính của Z-20 có 5 lá trong khi Black Hawk có 4 lá, điều này đem lại khả năng kiểm soát và cơ động mạnh hơn so với Black Hawk . Z-20 được kỳ vọng sẽ kết hợp với phi cơ vận tải Y-20 để tải quân. Vụ nổ súng diễn ra giữa hai nhóm người gần Văn phòng Xổ số Chính phủ và ngã tư Khok Wua trên đại lộ Ratchadamnoen, thủ đô Bangkok. Hầu hết những người bị thương thuộc nhóm biểu tình chống chính phủ, trong đó có cả nhân viên bảo vệ của PDRC. Cảnh sát trưởng quốc gia Adul Saengsingkaew cho biết vụ việc vẫn đang trong quá trình điều tra. Nổ súng tại thủ đô Bangkok khiến 1 người chết và 7 người bị thương. Ảnh: Twitter Tình trạng bạo lực tại thủ đô Bangkok gia tăng trong bối cảnh thủ lĩnh PDRC Suthep Thaugsuban đang chuẩn bị cho cuộc biểu tình quy mô lớn vào ngày 13-1 nhằm “đóng cửa Bangkok”. Hôm 10-1 trước đó, một cuộc tuần hành khác của PDRC ở tỉnh Kanchanaburi, miền Trung Thái Lan, đã vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các thành viên của phe trận mạc Dân chủ chống Độc tài (UDD, phe "Áo đỏ). Hai nhóm đụng độ và nổ súng cũng diễn ra khiến ít nhất 4 người bị thương, trong đó có 2 thành viên áo đỏ, 2 người còn lại là sinh viên. Trong khi đó, tại một buổi lễ kỷ niệm Ngày Thiếu nhi hôm 11-1, Tư lệnh Lục quân Thái Lan Prayuth Chan-ocha cho biết ông e sợ tình trạng bạo lực leo thang sẽ diễn ra trong tuần tới. Tướng Prayuth kêu gọi hết thảy các bên phải vô cùng kiềm chế dù cho họ có những tư tưởng chính trị khác nhau, đồng thời nhắc phủ nhận không có bạo động vào ngày 13-1 sắp tới. “Tiếng súng nổ lên vào sáng sớm này gần địa điểm du lịch Khao San Road. Tổng cộng có 7 người bị thương, Hầu hết là những người biểu tình chống chính phủ. Chúng tôi vẫn đang cho điều tra ai là người đã nổ súng” - Tư lệnh Cảnh sát nhà nước Adul Saengsingkaew cho hay. Theo Erawan Medical Center, một trong số này vẫn đang trong tình trạng nguy nan. Vụ việc xảy ra sau chỉ một ngày sau khi cuộc xô xát giữa những người biểu tình ủng hộ và chống đối chính phủ đã khiến chí ít 6 người bị thương vào hôm 10/1. Đây là những diễn biến mới nhất trong cuộc xung đột kéo dài 8 năm giữa hai lực lượng đối chọi chính: những người theo phe bảo hoàng, người dân miền nam và tầng lớp trung lưu thành thị chống lại những người ủng hộ Thủ tướng Yingluck và anh trai bà, ông Thaksin Shinawatra với Hầu hết là người nghèo, người dân nông thôn. Tư lệnh Lục quân Thái Lan, Tướng Prayuth Chan-ocha, đã tỏ ra đặc biệt quan ngại về tình trạng bạo lực có thể còn tiếp diễn trong tuần tới. Ông cũng chính là người từng tuyên bố không loại trừ khả năng xảy ra một cuộc đảo chính. Nhiều người dân Thái Lan tin rằng quân đội sẽ sớm can thiệp để phá vỡ thế bế tắc chính trị, đặc biệt là khi cuộc biểu tình biến thành bạo lực đẫm máu. Trên thực tiễn, trong một nền dân chủ luôn ở trong thể úp mở, quân đội nước này đã từng có ý định và hiện thực hóa 18 cuộc đảo chính trong 81 năm qua, nhưng lần này thì họ đang nạm để duy trì ý kiến trung lập. Ngay cả cơ quan Tư pháp cũng đã bắt đầu hai chân hai thuyền khi bắt ngờ xử mạnh 308 thành viên đảng Puea Thai cầm quyền, trong khi trước đó họ cốt tử chĩa mũi nhọn tham nhũng vào lãnh đạo biểu tình Suthep. Trong khi đó, giới cầm quyền cho biết sẽ triển khai 14.000 quân lính và cảnh sát hôm thứ Hai (13/1), bao gồm cả tại phi trường, để duy trì trật tự và dự phòng cuộc biểu tình có thể đi quá xa. Trong thời gian “phong tỏa”, Bộ trưởng Ngoại giao Surapong Tovichakchaikul cho biết nội các chính phủ không chuyển di sang tỉnh khác mà vẫn tiếp kiến làm việc ở Thủ đô Bangkok. Còn Đại sứ quán Mỹ đã khuyến cáo công dân nước mình nên thận trọng và tích tụ lương thực, thực phẩm và các đồ dùng cần yếu để phòng trừ trường hợp xấu nhất. Khmer Đỏ đã giết thảy Phải khẳng định rằng, trong lịch sử loài người, chưa có tội ác mọi rợ, mất hết nhân tính nào như Khmer Đỏ đã làm tại Campuchia. Một nhà sử học phương Tây từng phải thốt lên rằng, nếu Hitler đàn áp người Do Thái, gây ra bao khuyết điểm trên thế giới với tham vọng bá chủ của mình thì tại xứ sở Angkor, Khmer Đỏ còn man rợ hơn khi gây ra thảm kịch “núi xương sông máu” ngay tại chính sơn hà Campuchia, đặt dân tộc Khmer của chúng bên bờ diệt vong. Nhà sử học này cũng nhấn mạnh, xét về tỷ lệ người bị ám sát trên tổng số dân của giang san thì chừng độ diệt chủng của Khmer Đỏ cao hơn hẳn. Đã vậy chúng còn ứng dụng các biện pháp hành hình bất nhẫn thời trung cổ, dùng phổ quát các phương tiện thô sơ để làm điều này (chẳng hạn, dùng cuốc xẻng đập nát sọ nạn nhân)… Đó là “những con quỷ hút máu” đội lốt người, vừa dìm quần chúng. # Campuchia trong bể máu, vừa tiến hành thanh trừng nội bộ một cách tàn tệ… Tình cảm truyền thống đầy thiêng giữa hai dân tộc anh em Việt Nam – Campuchia, đó là tấm gương lịch sử của thế giới. Sự hy sinh cao cả của quân tự nguyện Việt Nam là bài học, là những gì đẹp đẽ nhất mà loài người luôn vươn tới. Điều này cũng lý giải được vì sao có tới hàng trăm ngàn người Campuchia đã tự nguyện xuống đường phố, biểu tình phản đối những tuyên bố vô lý và sai sự thực của lãnh đạo đảng CNRP. Thậm chí, các nạn nhân của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ còn đệ đơn kiện ông Kem Sokha, đề nghị ông này phải xin lỗi người dân Campuchia và nạn nhân của chế độ diệt chủng Pol Pot, song song bồi hoàn 1.000 USD cho Hội nạn nhân Khmer Đỏ vì cho rằng, khám đường diệt chủng Toul Sleng nức danh là giả, bất chấp việc trước đó, nhiều thủ lĩnh Khmer Đỏ nhận đây là trung tâm tra tấn của chế độ Pol Pot. Ông Chum Mey, chủ toạ Hội các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ đang phát biểu trước hàng ngàn người dân Campuchia biểu tình phản đối những tuyên bố xuyên tạc sự thực lịch sử của các thủ lĩnh đảng CNRP. Trong một cuộc họp báo hồi tháng 6 năm 2013 tại Bảo tàng Diệt chủng Toul Sleng ở thủ đô Phnom Penh, ông Chum Mey, Chủ tịch Hội các nạn nhân của chế độ Khmer Đỏ còn khẳng định, phủ nhận tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ, cũng như xuyên tạc vai trò lịch sử của quân nhân tự nguyện Việt Nam là sự xúc phạm toàn thể người dân Campuchia và vong hồn hàng triệu nạn nhân đã chết trong thời kì Khmer Đỏ cầm quyền. Chối bỏ lịch sử là trọng tội Sự đồng lòng của nhân dân và chính quyền Campuchia đã khiến những phát ngôn vô căn cứ, lạc lõng của các thủ lĩnh CNRP trở nên lố bịch, tầm thường và đầy tính chất tù túng. Thái độ chối bỏ lịch sử một cách trắng trợn, đổi trắng thay đen đã khiến Thủ tướng Chính phủ tôn thất Campuchia Hun Sen phải kêu gọi ra luật cấm mọi người bác bỏ nạn diệt chủng diễn ra dưới thời Khmer Đỏ những năm 1970. Luôn khẳng định rằng, cá nhân chủ nghĩa ông lẫn quần chúng. #, Giang san Campuchia “mãi ghi nhớ công lao to lớn” của Việt Nam vì đã giúp Campuchia hồi sinh từ chế độ Khmer Đỏ, Thủ tướng Hun Sen còn “kịch liệt chưng” lập luận cho rằng, Việt Nam đã “chiếm đóng” Campuchia trong tuổi chiến tranh với Pol Pot và nói thêm rằng chính phủ của ông có trách nhiệm trên dưới và chập hài cốt những lính Việt Nam còn mất tích trên lãnh thổ Campuchia. Cùng với hành động tri ân sự hy sinh của những người lính Việt Nam, đến giữa tháng 6/2013, cả Thượng viện và Hạ viện Campuchia đều duyệt y dự luật gồm 5 điều mang tên “Luật chối bỏ tội ác phạm phải trong thời kỳ Campuchia dân chủ, hay còn gọi là thời Khmer Đỏ (1975-1979)”. Theo đó, luật mới quy định “trừng phạt những người không công nhận, giảm nhẹ, phủ nhận hay đòi làm rõ sự tồn tại của các tội ác, hoặc vinh danh các tội ác thực hiện thời Campuchia Dân chủ" (tức tốc kỳ Khmer Đỏ). Quân tự nguyện Việt Nam là thiên thần Trong cuộc giải đáp phỏng vấn TTXVN tại Campuchia, nhà báo Khiev Kola (53 tuổi), người từng là phóng viên của nhiều cơ quan báo chí Campuchia và quốc tế, hiện là bình luận viên chính trị của Đài Truyền hình CTN của Campuchia nói: Khi người dân Campuchia đang rên xiết, tuyệt vọng trong địa ngục nhân gian do Pol Pot dựng lên thì họ đã được quân nhân trận mạc đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia cùng quân tự nguyện Việt Nam đến cứu. Người dân Campuchia lúc đó coi bộ đội chiến trận và quân tự nguyện Việt Nam là những "phúc tinh" đến cứu giúp họ thoát khỏi "lưỡi hái tử thần". Còn trong ký ức của những người trong cuộc, cố Thiếu tướng Đặng Quang Long, Tư lệnh chiến trận 779 không bao giờ quên được những câu nói thân tình của người dân Campuchia dành cho quân tình nguyện Việt Nam. Báo Quân đội dân chúng từng trích dẫn trong cuốn “Quân tự nguyện trận mạc 77 – Ký ức người trong cuộc” của Thiếu tướng hai câu chuyện cảm động. Đó là câu nói của bí thơ kiêm chủ toạ tỉnh Svây Riêng trước đồng bào Campuchia đang nhận phần gạo cứu trợ của quần chúng Việt Nam gửi đến: “Đây là gạo của nhân dân Việt Nam gửi đến cứu đói cho chúng ta, chúng ta nhận gạo này trong lúc dân chúng Việt Nam cũng đang bị đói, chúng ta không bao giờ quên sự nhường cơm sẻ áo này”. Và khi một phóng viên nước ngoài hỏi “Quân Việt Nam sang đây, Campuchia phải cung cấp cho họ những gì”?, Chủ tịch tỉnh Kông Pông Chàm Pi Chay đã trả lời ngay “Chỉ nước và khí trời”. Cùng thời khắc đó, phe Đồng minh cũng cố kỉnh nhằm lấy lại những tài sản này. Tuy nhiên, không ai có thể mường tưởng được sự phức tạp cũng như quy mô khổng lồ của nhiệm vụ này cho tới tháng 4 năm 1945… Vào đầu năm 1945, khi quân đội Mỹ tràn qua Tây Âu và áp sát Berlin, Hitler quyết không để những vàng bạc và tài sản giá trị mà y đã “lao tâm khổ tứ” để có được rơi vào tay phe Đồng minh. Ngày 19/3/1945, Hitler ra lệnh phá hủy toàn bộ các cơ sở quân sự, công nghiệp, giao thông và viễn thông cùng tất cả các cửa hàng trên đất Đức để tránh rơi vào tay Đồng minh. Kế hoạch “tử hủy hoại” của Hitler đã thất bại do sự phản đối của chính những lính tráng dưới quyền. Tuy nhiên, ít người biết rằng, cùng với mệnh lệnh “tự hủy”, Hitler cũng đã ra một “mật lệnh” cất giấu vớ số vàng bạc, tiền giấy, tiền xu và ngoại tệ trong nhà băng quốc gia Đức vào một mỏ muối xa xăm ở bang Thuringia có tên là Merkers. Những tác phẩm nghệ thuật và những khó báu văn hóa khác mà Đức Quốc xã cướp được từ các nước bị Đức chiếm đóng trong Thế chiến thứ 2 cũng được bí hiểm cất giữ tại đây. Hai đoàn tàu được sử dụng để vận chuyển vàng bạc và các tài sản giá trị từ Berlin tới Thuringia. Hitler đã dự kiến sẽ cho nổ tung các lối vào mỏ Merkers ngay sau khi việc cất giấu hoàn tất do lo sợ kho báu kếch xù này có thể lọt vào tay quân Đồng minh. Theo kế hoạch này, sau khi tình hình ổn thỏa hơn, vàng bạc và các tài sản giá trị sẽ được các quan chức của Đức Quốc xã lấy lại một cách an toàn. Tuy nhiên, trước khi kế hoạch của Hitler hoàn tất, quân đội Mỹ đã hành binh tới mỏ Merkers. Sớm trưa 22/3/1945, tập đoàn quân số 3 của Tướng George Patton đã vượt sông Rhine. Cho tới trưa ngày 4/4, đoàn quân này đã chiếm được làng Merkers. Ngay trong buổi chiều hôm đó, một đội đặc phái thuộc lực lượng phản gián của Đồng minh đã thẩm vấn một số người dân ở khu vực lân cận. Theo lời khai của người dân thì họ thấy những “hoạt động” bất thường quanh mỏ muối của Công ty khoáng sản Wintershal AG’s Kaiseroda. Tức khắc, Bộ Tư lệnh của quân Đồng minh ra lệnh giới nghiêm đối với khu vực này. Chiều sớm khuya 4/4, lính kì cọ của quân đội Mỹ phát hiện hai người đàn bà đi lại trên phố vi phạm lệnh giới nghiêm. Tức tốc họ bị bắt và thẩm vấn. Hai người phụ nữ khai rằng, họ là những người dân Pháp tị nạn, một trong hai người đàn bà đang mang thai và sắp đẻ do vậy họ buộc phải đi sang làng bên cạnh để tìm cô đỡ. Lính Mỹ đã đưa hai người đàn bà này lên xe và đưa sang thôn bên cạnh để tìm cô đỡ cho họ. Sáng sớm ngày hôm sau, khi đang trên đường đưa hai người đàn bà trở về, chiếc xe đi qua cửa vào của giếng mỏ Kaiseroda, một binh sỹ đã hỏi giếng mỏ này khẩn hoang khoáng sản gì. Không ngờ, một người đàn bà nói: “Đó là giếng mỏ cất giấu vàng”. Ngay khi nhận được những thông tin này, Trung tá Russell, một sỹ quan chỉ huy của quân đội Mỹ đã ngay tức khắc đến Merkers. Sau khi thẩm vấn những người dân, Russell khẳng định rằng, những thông báo nhận được không phải chỉ là những lời đồn. Ngoại giả, Russell cũng biết thêm rằng, Giám đốc Viện Bảo tàng nhà nước Đức Paul Ortwin Rave hiện đang có mặt tại đó để giám sát việc cất giữ các bức tranh nức danh vào trong mỏ. Tiếp đó, Russell thẩm vấn những người quản lý mỏ cũng như Werner Veick, Giám đốc Cục Ngoại hối thuộc nhà băng nhà nước Đức hiện đang có mặt tại mỏ. Veick khai rằng, từ 26/8/1942, nhà băng nhà nước Đức đã đem tất thảy số vàng dự trữ cũng như những tài sản quý cướp được (bao gồm vàng, ngoại tệ và các tác phẩm nghệ thuật) đứng tên đảng SS tại nhà băng này chuyển tới mỏ Merkers. Hoạt động cất giấu này kéo dài cho tới 27/1/1945, tổng cộng vận tải 76 chuyến. Ngoài ra các ngày 16, 20, 21 tháng 3 năm 1945, 14 viện bảo tồn và phòng tranh ở miền đông nước Đức cũng chuyên chở những tài sản quý mà họ đang cất giữ tới mỏ Merkers. Để tăng cường việc bảo vệ mỏ vàng của Đức Quốc xã vừa bị phát hiện, Russell đã hạ lệnh lập một hàng rào lưới điện bao xung quanh khu mỏ. Ban sơ, Russell hạ lệnh cho Tiểu đoàn tăng 712 tới Merkers để bảo vệ lối vào mỏ. Tuy nhiên, đến buổi tối hôm đó, lính Mỹ lại phát hiện thêm 5 lối vào mỏ khác do vậy, một tiểu đoàn tăng không đủ để làm nhiệm vụ bảo vệ. Do vậy, Thiếu tướng Herbert L. Earnest sau đó đã phải lệnh cho Tiểu đoàn chống tăng 773 và Trung đoàn bộ binh 357 tiến tới Merkers để chi viện cho Tiểu đoàn 712. Đến sáng ngày 7/4 tuốt tuột số lối vào mỏ đều được tìm thấy và được binh lính Mỹ bảo vệ. 10 giờ sáng, Russell và hai sĩ quan khác, cùng với Rave và các quan chức quản lý mỏ, tiến vào lối cửa chính. Ở độ sâu 670m dưới mặt đất, họ phát hiện hơn 550 bao tải đặt dọc hai bên tường, bên trong sờ soạng là các đồng mác Đức. Tiếp kiến tiến sâu hơn nữa, họ bắt gặp một bức tường gạch dày hơn 1 mét, ở giữa bức tường là một cửa hầm bằng sắt khổng lồ và kiên cố. Vào thời khắc lúc bấy giờ, quân của tướng Patton đang gấp rút hành quân vào nước Đức, cho nên, khi nghe mỏng bên trong mỏ Merkers chỉ phát hiện một số lượng lớn tiền mác Đức vị tướng quân này đã ra lệnh cho Trung đoàn bộ binh 357 rời khỏi khu mỏ trừ tiểu đoàn số 1. Patton cũng ra lệnh phá mở cửa hầm. Sáng sớm ngày 8/4, Russell cùng một sỹ quan, viên chức chụp ảnh, phóng viên và một số lính của Tiểu đoàn công binh số 282 trở lại mỏ. Cửa hầm bằng sắt được làm rất vững chắc, tuy nhiên, bức tường gạch xung quanh lại rất dễ dàng bị phá tung. Và những người Mỹ tiến vào kho báu mà có nhẽ người ta chỉ có thể thấy trong câu chuyện nghìn lẻ một đêm. Trước mặt họ là một căn phòng rộng 23 mét dài tới 45 mét. Bên trong phòng là trên 7.000 chiếc bao tải được đánh số và xếp thành 20 hàng trải từ đầu phòng tới cuối phòng. Khoảng cách giữa mỗi hàng khoảng 1 mét. Ở cuối căn hầm, người ta phát hiện một nhiều hòm, và vali xếp thành đống, được niêm phong bằng chữ “Melmer”. Dấu niêm phong cho thấy, những chiếc hòm này thuộc về tài khoản của đảng SS đăng ký tại ngân hàng quốc gia Đức. Đó là vàng bạc và những tài sản giá trị mà SS đã cướp được khi đánh chiếm châu Âu. Đây cũng là mai mối trước tiên về sự phức tạp cũng như quy mô của hành động cướp bóc của Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ 2. Russell và những người vào bên trong hầm vàng đã mở những chiếc bao tải và kiểm kê chi tiết số tài sản chứa trong hầm. Theo danh sách kiểm kê này thì trong hầm chứa tới 8198 miếng vàng, 55 va li chứa các thỏi vàng nén (mỗi va li chứa 2 thỏi, mỗi thỏi nặng 10 kg), hàng trăm bao tải chứa các đồ vật làm bằng vàng, hơn 1300 bao tải chứa tiền vàng của Đức, Pháp và Anh, 711 bao tải chứa các đồng vàng Mỹ loại 20 đô la và hàng trăm bao tải khác chứa các loại tiền vàng của hơn 15 nhà nước khác. Ngoài ra, còn hàng trăm bao tải chứa các loại ngoại tệ, 9 bao tải chứa các loại tiền vàng cổ đại, 2380 bao tải và 1300 va li chứa các đồng mác Đức, tổng số lên tới 2,7 tỷ mác, 20 thỏi bạc mỗi thỏi nặng 200 kilogam, 40 bao chứa bạc miếng, 63 dương và 55 bao tải đựng các mâm bạc, một bao đựng 6 thỏi bạch kim, chung cuộc là 110 bao đựng các đồ châu báu, kim cương mà Đức Quốc xã cướp được từ các nước chúng đã từng giành. Tại các nhánh đường hầm khác, người ta còn phát hiện một lượng lớn những tác phẩm nghệ thuật giá trị mà Đức Quốc xã cướp từ các bảo tồn châu Âu, từ các bức tranh cho tới tượng điêu khắc, đồng hồ cổ... Kho báu khổng lồ này đã chứng minh cho sự tàn nhẫn của chủ nghĩa phát xít Đức. Trong số những bảo tải chứa vàng, người ta phát hiện rất nhiều vàng được lấy từ răng của các nạn nhân trong các trại tập hợp. Tướng Patton để ý tới những tác phẩm nghệ thuật cũng các loại ngoại tệ được cất giữ bên trong căn hầm và nhanh chóng tinh thần được âm mưu chính trị ẩn đằng sau số tài sản khổng lồ này. Patton ngay lập đề nghị giao tuốt kho báu của Đức Quốc xã cho quân viễn chinh Đồng minh tiếp quản. Ngay sau đó, Tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ khi đó, Tướng Dwight D. Eisenhower đã phong cho Thượng tá Bernstein trở thành Giám đốc chủ quản tài chính khu vực G5/SHAEF (khu vực quản lý số 5 trực thuộc Bộ Tư lệnh tối cao của quân Đồng minh, tức miền Trung và Nam nước Đức hiện nay) chịu trách nhiệm quản lý số tài sản được tìm thấy ở mỏ Merkers. Theo thỏa thuận của phe Đồng minh, khi chiến tranh kết thúc, Thuringia sẽ trở thành một vùng nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Liên Xô. Ý thức về điều này, quân đội Mỹ quyết định di chuyển hết kho báu này khỏi mỏ muối. Một đoàn xe tải quân sự được dùng để đưa tuốt tuột kho báu tới cất giữ ở Frankfurt, nơi thuộc sự quản lý của Mỹ sau khi chiến tranh chấm dứt. Ngày 15/4, dưới sự bảo vệ của máy bay tranh đấu, những tài sản mà Đức Quốc xã cất giấu trong mỏ Merkers được chất lên hàng trăm chiếc xe tải và vận tải đến ngân hàng quốc gia Đức đặt tại Frankfurt. Trung tuần tháng 8, quân Đồng minh mới bắt đầu tiến hành cân và định giá số tài sản thu được. Theo đó, số vàng trong kho báu của Đức Quốc xã có giá trị   rùa đá phong thủy   lên tới 262.213.000 đô la Mỹ, bạc được định giá là 270.469 đô la Mỹ. Ngoài ra, một bao bạch kim và 8 bao chứa các đồng tiền vàng hiếm chưa thể định giá được. Đến đầu năm 1946, ắt số vàng và tiền vàng thu được từ mỏ Merkers được giao cho Ủy ban đền bù chiến tranh của quân Đồng minh, rồi rốt cuộc được giao lại cho Ủy ban ba bên về hoàn tiền vàng bao gồm Anh, Pháp và Mỹ. Ủy ban này có nhiệm vụ mang số vàng được giao trả về cho các nhà băng Trung ương của các nước. Tuy nhiên, do Chiến tranh lạnh, một số vàng mãi cho tới năm 1996 mới được trả hết. Người ta gần như không ngờ gì về giá trị kho báu Đức Quốc xã cất giấu tại mỏ muối Merkers. Tuy vậy, nguồn gốc của số tài sản khổng lồ này cũng như việc xử lý số châu báu thu được ở Merkers đã gây ra không ít tranh biện. Không có tài liệu nào về lượng vàng thu được từ việc nấu chảy những chiếc răng vàng. Theo Norbert Moczarksi, một chuyên viên lưu trữ văn thư bang Thuringia, sau khi được chuyển tới Frankfurt, người ta mất dấu kho báu này trong những năm hậu chiến. Số mệnh của một phần số vàng và các đồ vật quý giá tại Merkers vẫn còn là điều gì đó bí mật cho tới ngày nay. Ngoại giả, một câu hỏi mà cho tới nay người ta vẫn chưa thể giải đáp được một cách chắn chắn rằng kho báu ở mỏ muối Merkers có phải là toàn bộ kho báu mà Đức Quốc xã cất giấu nhằm chuẩn bị cho kế hoạch trở lại của Đế chế thứ 3 hay không? Tuy nhiên, có một điều kiên cố rằng, cả thảy những kho báu của Đức Quốc xã được tìm thấy tại nhiều nơi ở châu Âu đều không thể so sánh với kho báu tại Merkers. Một trong những kho báu được cho là có quy mô tương đương với kho báu Merkers là kho báu do chính quyền phong trào cách mạng của người Croatia – The Utasa cướp được. Song, cho đến nay số vàng trong kho báu này vẫn chưa được tìm thấy. Có nhiều dấu hiệu cho thấy, chúng đã được Vatican và Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA bí hiểm tải ra khỏi châu Âu. Hitler xem diễu binh Tuy nhiên, bao lăm vàng đã được lưu lại Vatican thì cho đến nay vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp. Tại khu vực núi Alps thuộc cương vực nước Áo, người ta cũng phát hiện nhiều kho tàng cất giữ vàng bạc của Đức Quốc xã với quy mô nhỏ hơn. Tại đây, Đức Quốc xã từng xây dựng một “lô cốt dân chúng” cực kỳ vững chắc hòng biến nơi đây trở thành điểm cố thủ rút cuộc. Đức Quốc xã đã xem các kế hoạch trở lại khi Đế chế thứ 3 đứng trước nguy cơ sụp đổ. Quờ quạng các kho báu được cất giấu ở khắp nơi trên thế giới của Đức Quốc xã đều nhằm phục vụ cho kế hoạch phục hưng Đế chế thứ 3. Vấn đề mấu chốt của những kế hoạch này là khả năng che giấu những kho báu trước tai mắt của quân Đồng minh. Bởi thế, ngoài những kho báu nằm trên cương vực nước Đức và các bờ cõi quân Đức chiếm đóng, một phần của kho báu được cất giữ an toàn trong các tài khoản bí mật tại nhà băng Thụy Sĩ. Những phần khác được chuyển tới Nam Mỹ, chính yếu là tới Argentina. Theo vắng của các ngân hàng Thụy Sĩ gửi lên Bộ Tài chính của nước này thì tổng số vốn lưu trữ trong ngân hàng đã tăng từ 332 triệu đô la Mỹ vào năm 1941 lên 846 triệu vào năm 1945. Trong đó có ít nhất 500 triệu đô la Mỹ có cỗi nguồn từ Đức Quốc xã. Những con số này hoàn toàn khớp với bản vắng của Quốc hội Mỹ trong thời gian Bill Clinton còn đương nhiệm. Theo báo cáo này, Thụy Sĩ đã nhận 440 triệu đô la Mỹ dưới dạng vàng của Đức Quốc xã. Trong đó 316 triệu đô la là do Đức Quốc xã cướp được từ các nước bị chiếm đóng. Ngoại giả, còn có một số vàng trị giá khoảng 1 triệu đô la Mỹ được chuyển vào hai ngân hàng thương nghiệp của Đức là Dresdner và Deutsch. Số vàng này sau đó dã được bán tới Thổ Nhĩ Kỳ để đổi lấy ngoại tệ. Thưa của Quốc hội Mỹ cũng cho hay, một số vàng trị giá 300 triệu đô la Mỹ đã được đưa vào các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ duyệt các nhà băng của Thụy Sĩ. Các số liệu thống kê cho thấy, trữ lượng vàng của các nhà nước này đều có sự đột biến trong khoảng thời gian từ 1939 tới 1943. Chả hạn trữ lượng vàng của Tây Ban Nha tăng từ 42 tấn lên 104 tấn, Thụy Điển tăng từ 160 tấn lên 456 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ tăng từ 88 tấn lên 221 tấn, Thụy Sĩ tăng từ 503 tấn lên 1040 tấn… tất nhiên, việc tăng trưởng trữ lượng vàng ở các nhà nước trung lập này không chỉ liên can tới một mình Đức Quốc xã. Bởi lẽ rất nhiều nước Đồng minh cũng tiến hành buôn bán với các nước này. Tuy nhiên, các quốc gia trên đóng một vai trò quan trọng đối với Đức Quốc xã trong việc tiến hành chiến tranh. Thụy Điển cung cấp quặng sắt chất lượng cao. Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp crom. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cung cấp vonfram. Quờ những kim loại này cần để sản xuất đạn dược và xe bọc thép hạng nặng. Nói cách khác, để có thể tiến hành chiến tranh, Đức Quốc xã phải dựa gần như hoàn toàn vào các nước trên. Ngoài ra, nếu như Argentina là nơi ẩn náu chính của tàn tích Đức Quốc xã sau Chiến tranh thế giới thứ 2 thì sự gia tăng trữ lượng vàng của nhà nước Nam Mỹ này chính là một minh chứng rất rõ. Dự trữ vàng của Argentina tăng từ 314 tấn năm 1940 lên 1.064 tấn năm 1945, tăng 635 triệu đô la Mỹ. Ngoài Argetina, dự trữ vàng của Brazil cũng tăng từ 45 tấn năm 1940 lên 314 tấn năm 1945, hay tăng 288 triệu đô la Mỹ. Người ta không bao giờ biết bao lăm phần trăm trong sự gia tăng dự trữ vàng của các nhà nước Nam Mỹ tới từ Đức Quốc xã vào thời đoạn cuối cuộc chiến để chuẩn bị cho các kế hoạch trở lại. Thông báo độc nhất vô nhị mà người ta biết được có nhẽ là chiến dịch chuyển vàng tới Argentina mang tên Feuerland mà người cầm đầu chính là Martin Borman, tên thư ký thân cận của trùm Hitler trong thời kì gần đây. Có lẽ không một tên đảng viên quốc xã nào được nói tới nhiều như Martin Bormann. Tuy nhiên, mãi tới gần đây, người ta mới biết về mạng của hắn. Song những vật giá trị mà hắn chuyển tới Argentina trong chiến dịch hành động Feuerland cũng như việc hắn phân tán các tài sản của Đức Quốc xã vẫn còn là một bí ẩn chưa thể giải đáp. Tuy nhiên, vàng chỉ là một phần nhỏ trong kế hoạch trở lại của Đức Quốc xã. Những thứ giá trị hơn đối với kế hoạch đó là lượng cổ phiếu, trái khoán và chừng 750 công ty được Bornmann thành lập trên toàn thế giới. Những công ty này hoạt động trong nhiều lĩnh vực như hóa chất, điện, sắt thép, nắm giữ các bằng sáng chế giá trị và sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định để tài trợ cho hoạt động ngầm của Đức Quốc xã, phục vụ cho kế hoạch phục hưng của Đế chế thứ 3. Cho tới nay, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, song người ta vẫn chưa thể có câu đáp thực thụ rõ ràng về kho báu của Hitler và kế hoạch phục hưng Đế chế thứ 3 của Đức Quốc xã. Kế hoạch đó cụ thể ra sao và sẽ được tiến hành vào thời khắc nào? Và liệu rằng kho báu gây nhiều tranh cãi mà người ta tìm thấy ở Merkers có phải là kho báu lớn nhất mà Đức Quốc xã chuẩn bị cho kế hoạch này hay không, hay vẫn còn những kho báu khác vẫn đang nằm im trong lòng đất? thảy vẫn còn là một bí mật. Nữ vương Beatrix và Hoàng hậu Maxima - Ảnh: Getty Images Hoàng hậu Maxima (SN 1971) là con gái của Jorge Zorreguieta và người vợ thứ hai. Cô có hai anh em trai, một em gái và ba người chị cùng cha khác mẹ. Cỗi nguồn bên nội của Maxima là hậu duệ của Vua Afonso III (Bồ Đào Nha) và một gia đình quý tộc khác ở bán đảo Iberia. Lý lịch của Maxima không có gì gây tranh cãi nếu như cha cô không giữ vị trí bộ trưởng nông nghiệp trong nội các của Tổng thống Jorge Rafael Videla suốt thời kỳ diễn ra “cuộc chiến bẩn thỉu” của Argentina. Dưới chế độ độc tài bất nhẫn của Tổng thống Jorge Rafael Videla, từ năm 1975 đến 1978, khoảng 22.000 người đã bị giết hoặc biến mất. Dù khi đó Maxima chỉ là một đứa trẻ nhưng mối quan hệ gia đình đã gây khó khăn cho cô khi hôn phối cùng Hoàng tử Willem. Nhiều cuộc tranh biện trong quốc hội Hà Lan về việc Maxima có thích hợp làm con dâu của hoàng thất hay không đã kéo dài suốt nhiều tháng. Theo yêu cầu của quốc hội, giáo sư Michiel Baud, người chuyên nghiên cứu về Mỹ Latinh đã thực hành một cuộc điều tra để xem xét vai trò của ông Zorreguieta trong “cuộc chiến bẩn thỉu”. Theo kết luận của giáo sư Baud, dù ông Zorreguieta có vị trí cao trong nội các của Tổng thống Jorge Rafael Videla, nhưng không hề trực tiếp giết hại dân lành. Rốt cục, quốc hội Hà Lan đã chuẩn y cuộc hôn nhân giữa Hoàng tử Willem và Maxima nhằm đảm bảo tính pháp lý cho việc thừa kế ngai vàng của Willem. Nhưng, trong lễ thức kết hôn cũng như lễ đăng quang của Vua Willem, bố mẹ Maxima đều không được mời dự. Ở tuổi 28, Maxima gặp Willem - Alexander vào tháng 4/1999 tại Seville, Tây Ban Nha, trong hội chợ mùa xuân Seville. Maxima không thể ngờ, lần quen biết thông thường đó đã đổi thay hoàn toàn cuộc thế cô. Trong một thông tin hé lộ với báo chí, Willem chỉ giới thiệu với Maxima mình là “Alexander” chứ không nhắc gì đến địa vị hoàng tử. Họ đồng ý gặp lại nhau hai tuần sau đó ở New York, nơi Maxima đang làm việc cho Deutsche Bank. Quan hệ của họ đơm hoa kết trái ở New York. Maxima kết hôn với Hoàng tử Willem-Alexander năm 2002 và có ba công chúa Amalia, Alexia và Ariane. Để trở nên Hoàng hậu Maxima như bữa nay, giới quan sát cho rằng Maxima đã rất thay nén chịu, chấp nhận việc hai thân phải vắng mặt trong các sự kiện trọng đại của mình, vì không muốn đám mây đen quá khứ của cha ảnh hưởng đến thân phận con dâu hoàng phái. Nhưng, trên thực tiễn, Maxima vẫn duy trì cho các con sự cân bằng và hòa hợp giữa bên nội hoàng phái và bên ngoại thứ dân. Điều này được Vua Willem - Alexander đánh giá cao: “Đó là cách tôi hy vọng mọi người ghi nhận về gia đình chúng tôi”. Hoàng hậu Maxima và vua Willem tại lễ lên ngôi của vua Willem (ảnh: Getty Images) Góp phần xúc tiến quốc hội tán thành lễ cưới của Willem và Maxima là sự ủng hộ tuyệt đối của Nữ hoàng Beatrix. Vào sinh nhật lần thứ 63 của mình, trong một lần xuất hiện công khai hiếm hoi trước công chúng cùng Willem và Maxima, nữ vương Beatrix đã thông báo lễ đính hôn của con mình và biểu đạt con dâu tương lai là “một người đàn bà đương đại, thông minh”. Ngay sau lễ đính hôn vào ngày 30/3/2001, Maxima gây ấn tượng mạnh với cư dân xứ hoa Tulip khi trả lời lưu loát bằng tiếng Hà Lan trong một chương trình truyền hình trực tiếp. Nhà sử học Hà Lan Henk te Velde cho biết: “Mọi người rất cảm kích việc công nương chịu khó học tiếng Hà Lan. Điều đó cho thấy cô ấy quý trọng và thay để hiểu biết văn hóa Hà Lan. Sự sẵn lòng lao vào mọi khó khăn và những hoạt động từ thiện của cô ấy đã chiếm được trái tim của người dân”. Cỗi nguồn Mỹ Latinh của Maxima cũng làm tăng thêm sức quyến rũ của cô. Cô hòa đồng chứ không cố giữ khoảng cách với công chúng như nữ vương Beatrix. “Cô ấy là người nước ngoài, cô ấy có niềm say mê, nhấp nhánh và rực rỡ” - ông Henk te Velde mong. Hoàng hậu Maxima được đánh giá là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất trong gia đình hoàng gia, nhờ nụ cười cô tràn ngập niềm vui, phong cách Latinh tỏa ra nơi cô và cách cô ăn mặc, kiêu hãnh về bản thân. Trước khi gặp Hoàng tử Willem, Maxima từng có bề dày kinh nghiệm làm việc đáng nể. Tốt nghiệp ngành kinh tế Đại học Católica Argentina năm 1995, Maxima đầu quân cho các công ty tài chính quốc tế lớn ở Argentina, New York (Mỹ) và Brussels (Bỉ). Tùng san Vanity Fair (Tây Ban Nha) phỏng vấn một đồng nghiệp cũ của cô hồi ở New York, người này cho biết: “Không nghi gì việc Maxima sẽ là một hoàng hậu tuyệt vời, vì cô luôn cố kỉnh phấn đấu cho những gì cô muốn”. Anh tiết lậu, cô từng phải ngủ nhờ trên ghế của một người bạn trong sáu tháng khi đến New York tìm việc và gửi khoảng 60 hồ sơ tới các nhà băng khác nhau cho đến khi có được một công việc. Công nương Maxima và Hoàng tử Willem trong một sự kiện gặp gỡ học trò Hà Lan (ảnh: Hello) Những tri thức về tài chính giúp Maxima giành được vị trí Luật sư đặc biệt về tuốt tuột vấn đề tài chính cho phát triển (UNSGSA) của Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon. Vai trò của Maxima là nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan yếu của hệ thống tài chính để đạt được đích kinh tế và phát triển như xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực và giáo dục. Trong nước, Maxima tham dự vào các cuộc tranh biện về các vấn đề nhập cư và hội nhập nền văn hóa Hà Lan. Maxima nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tiếng Hà Lan (như cô đã làm) đối với người nhập cư, để có thể dự đầy đủ đời sống từng lớp. Hà Lan là ngôn ngữ thứ ba của Nữ hoàng, bên cạnh việc thông tỏ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Ngoài ra, cô còn biết tiếng Pháp ở mức độ đàm thoại. Đức vua Willem, Hoàng hậu Maxima và các công chúa (ảnh: Getty Images) Trong những năm học ở đại học Leiden, Hoàng tử Willem từng nổi danh với các vụ tiệc tùng và bị gắn cho biệt danh “Prince Pils” (Hoàng tử bia Pils hay Hoàng tử nhậu nhẹt). Hình ảnh đó đã thay đổi hoàn toàn sau ngày ông thành hôn cùng Maxima. Luôn xuất hiện với vợ và ba con gái, Willem - Alexander hoàn toàn thuyết phục được người Hà Lan là ông đã sẵn sàng trở thành một vị vua tốt. Nhà sử học Henk te Velde cho rằng: “Điều quan yếu đối với Hoàng hậu Maxima là cô ấy biết vị trí của mình - luôn bên cạnh nhà vua”. Kỳ tới: Bà hoàng Monaco

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét